Những năm gần đây tỉnh Thanh Hóa đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng xây dựng 410 công trình nước sạch tại các huyện miền núi nhằm cải thiện đời sống nhân dân các dân tộc. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, chỉ sau vài năm vận hành, gần một nửa công trình này không phát huy được tác dụng, gây lãng phí cho ngân sách và ảnh hưởng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi của tỉnh.
Thực trạng sau đầu tư
Triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia 134, 135 về hỗ trợ nước sinh hoạt cho đồng bào các dân tộc miền núi, trong những năm qua, nhất là giai đoạn 2010 - 2013, từ nhiều nguồn vốn khác nhau, tỉnh Thanh Hóa đã đầu tư kinh phí xây dựng 410 công trình nước sinh hoạt tập trung, nước sinh hoạt phân tán từ nguồn nước tự chảy tại các huyện miền núi. Là huyện miền núi xa nhất tỉnh, điều kiện kinh tế còn rất khó khăn, tính từ năm 1999 đến nay huyện Mường Lát đã được đầu tư xây dựng tới 72 công trình nước sạch (CTNS). Với hàng loạt CTNS như vậy, nếu phát huy được hiệu quả, đồng bào các dân tộc ở đây đã thoát cảnh hàng ngày đi cõng nước từ sông suối về, vừa mất nhiều công sức nhưng lại phải dùng nước không hợp vệ sinh. Tuy nhiên, do đầu tư dàn trải, thiếu khoa học, khảo sát tính toán không kỹ đã dẫn đến thực trạng hàng loạt CTNS không có hiệu quả hoặc hiệu quả không cao. Đơn cử tại xã Mường Lý, một xã vùng sâu vùng xa của huyện, được đầu tư tới 15 CTNS, theo thiết kế sẽ cung cấp nước cho 760 hộ dân, nhưng đáng tiếc, các CTNS này đều không mang lại hiệu quả như mong muốn, một số sử dụng được nhưng chỉ có nước vào mùa mưa, số khác quanh năm khô khốc. Như vậy, chỉ tính riêng tại xã này, trên chục tỷ đồng đầu tư của nhà nước đã trở nên lãng phí, trong khi người dân vẫn phải hàng ngày đi xa vài cây số để gùi nước. Theo lãnh đạo huyện, hiện tại chỉ có 11 CTNS phát huy được hiệu quả, số còn lại đều trong tình trạng “trơ đáy” vào mùa khô hoặc không sử dụng được.
Tương tự như Mường Lát, các huyện khác như Lang Chánh (14 CTNS), Bá Thước (33 CTNS), Quan Hóa (32 CTNS)… được đầu tư xây dựng trong giai đoạn 2010 - 2013, phần lớn đều không đạt được mục tiêu cung cấp nước sạch cho người dân. Đáng buồn hơn, huyện Quan Sơn có tổng số 27 CTNS tập trung, hiện chỉ có 4 CTNS đang hoạt động đúng công năng, số còn lại rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng hoặc hư hỏng xuống cấp, không ít bể chứa phải bỏ hoang.
Đầu tư hàng trăm tỷ, dân vẫn “khát”
Nói đến CTNS tập trung, người dân bản Oi (552 nhân khẩu) xã Quang Hiến (huyện Lang Chánh) vẫn nhớ như in niềm vui của ngày đầu tiên được dùng nước sạch. Năm 2012, bản được nhà nước đầu tư 1 tỷ đồng xây dựng CTNS từ nguồn nước tự chảy với các hạng mục gồm: một bể lọc đầu nguồn, một bể lắng lọc chậm, một bể tổng chứa nước, 8 bể phụ và hệ thống đường ống dẫn nước. Ngày CTNS đi vào hoạt động, dân bản vui như mở hội vì tin rằng từ nay sẽ được dùng nước sạch thỏa thuê, không còn cảnh hàng ngày vượt mấy cây số đường rừng đi gùi nước, vừa mất công sức, vừa không được dùng nước sạch lại phải chắt chiu, tiết kiệm. Nhưng rồi “niềm vui ngắn chẳng tầy gang”, chỉ sau một thời gian sử dụng, do phụ thuộc vào nguồn nước thiên nhiên tùy theo mùa, các bể chứa đều rơi vào tình cảnh lúc có nước lúc không, số khác lại hư hỏng, xuống cấp. Đáng buồn hơn, có bể không hư hỏng, lại đang vào mùa mưa, nguồn nước dồi dào, nhưng vẫn cạn khô, nguyên nhân… tại trâu bò thả rông dẫm đạp vào đường ống gây hư hỏng. Lẽ ra, những hư hỏng kiểu này hoàn toàn có thể khắc phục mà không tốn mấy kinh phí, thời gian, nhưng “cha chung không ai khóc”, bà con dân bản, kể cán bộ thôn thà quay lại cảnh gùi nước hàng ngày như trước, còn hơn phải mất công sửa chữa vì “của nhà nước làm, hỏng thì nhà nước phải sửa, không phải việc của mình”.
Cũng như ở bản Ọi, một số địa phương khác như bản Đồng Tâm, xã Phú Nghiêm (huyện Quan Hóa) được đầu tư 2 CTNS theo chương trình 134 (6 bể) và chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch & VSMT nông thôn (12 bể). Đến nay, chỉ có 6 bể có nước vào mùa mưa, số còn lại nằm trơ đáy. Bản Poong xã Đồng Tâm được đầu tư 2 CTNS của Chương trình Nước sạch & Vệ sinh môi trường nông thôn (5 bể) và tổ chức Tầm nhìn thế giới (7 bể). Nhưng chỉ sau vài năm, hiện chỉ còn duy nhất một bể có nước.
Trao đổi với PV Xây dựng, ông Dương Văn Mạnh - Chủ tịch UBND huyện Như Xuân cho rằng, tình trạng trên do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan. Trước hết là do hầu hết các CTNS đều lấy nước từ nguồn tự chảy, phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm nên thường không có nước vào mùa khô. Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân do mức đầu tư kinh phí thấp, lại chịu ảnh hưởng bởi thời tiết, thiên tai bão lũ khiến các CTNS nhanh hư hỏng xuống cấp. Đáng chú ý, theo báo cáo của UBND huyện gửi đoàn Giám sát Ban Dân tộc HĐND tỉnh thì trong tất cả các khâu từ quản lý thi công, giám sát quá trình thi công, công tác quản lý, vận hành bảo dưỡng CTNS cho đến việc lựa chọn đầu tư, khảo sát địa điểm, nguồn nước, ý thức người dân sở tại, công tác quản lý nhà nước của chính quyền địa phương… tất thảy đều có sai sót, bất cập và cả yếu kém. Đặc biệt là công tác quản lý, bảo dưỡng, sữa chữa CTNS ở nhiều địa phương gần như trong tình trạng thả nổi, không ai lo do không có kinh phí.
Như vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó quan trọng nhất vẫn là yếu tố chủ quan đã khiến hàng loạt CTNS với kinh phí đầu tư tới vài trăm tỷ đồng không phát huy được hiệu quả như mong đợi.
Đào Nguyên
Báo Xây dựng

Triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia 134, 135 về hỗ trợ nước sinh hoạt cho đồng bào các dân tộc miền núi, trong những năm qua, nhất là giai đoạn 2010 - 2013, từ nhiều nguồn vốn khác nhau, tỉnh Thanh Hóa đã đầu tư kinh phí xây dựng 410 công trình nước sinh hoạt tập trung, nước sinh hoạt phân tán từ nguồn nước tự chảy tại các huyện miền núi. Là huyện miền núi xa nhất tỉnh, điều kiện kinh tế còn rất khó khăn, tính từ năm 1999 đến nay huyện Mường Lát đã được đầu tư xây dựng tới 72 công trình nước sạch (CTNS). Với hàng loạt CTNS như vậy, nếu phát huy được hiệu quả, đồng bào các dân tộc ở đây đã thoát cảnh hàng ngày đi cõng nước từ sông suối về, vừa mất nhiều công sức nhưng lại phải dùng nước không hợp vệ sinh. Tuy nhiên, do đầu tư dàn trải, thiếu khoa học, khảo sát tính toán không kỹ đã dẫn đến thực trạng hàng loạt CTNS không có hiệu quả hoặc hiệu quả không cao. Đơn cử tại xã Mường Lý, một xã vùng sâu vùng xa của huyện, được đầu tư tới 15 CTNS, theo thiết kế sẽ cung cấp nước cho 760 hộ dân, nhưng đáng tiếc, các CTNS này đều không mang lại hiệu quả như mong muốn, một số sử dụng được nhưng chỉ có nước vào mùa mưa, số khác quanh năm khô khốc. Như vậy, chỉ tính riêng tại xã này, trên chục tỷ đồng đầu tư của nhà nước đã trở nên lãng phí, trong khi người dân vẫn phải hàng ngày đi xa vài cây số để gùi nước. Theo lãnh đạo huyện, hiện tại chỉ có 11 CTNS phát huy được hiệu quả, số còn lại đều trong tình trạng “trơ đáy” vào mùa khô hoặc không sử dụng được.
Tương tự như Mường Lát, các huyện khác như Lang Chánh (14 CTNS), Bá Thước (33 CTNS), Quan Hóa (32 CTNS)… được đầu tư xây dựng trong giai đoạn 2010 - 2013, phần lớn đều không đạt được mục tiêu cung cấp nước sạch cho người dân. Đáng buồn hơn, huyện Quan Sơn có tổng số 27 CTNS tập trung, hiện chỉ có 4 CTNS đang hoạt động đúng công năng, số còn lại rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng hoặc hư hỏng xuống cấp, không ít bể chứa phải bỏ hoang.
Đầu tư hàng trăm tỷ, dân vẫn “khát”
Nói đến CTNS tập trung, người dân bản Oi (552 nhân khẩu) xã Quang Hiến (huyện Lang Chánh) vẫn nhớ như in niềm vui của ngày đầu tiên được dùng nước sạch. Năm 2012, bản được nhà nước đầu tư 1 tỷ đồng xây dựng CTNS từ nguồn nước tự chảy với các hạng mục gồm: một bể lọc đầu nguồn, một bể lắng lọc chậm, một bể tổng chứa nước, 8 bể phụ và hệ thống đường ống dẫn nước. Ngày CTNS đi vào hoạt động, dân bản vui như mở hội vì tin rằng từ nay sẽ được dùng nước sạch thỏa thuê, không còn cảnh hàng ngày vượt mấy cây số đường rừng đi gùi nước, vừa mất công sức, vừa không được dùng nước sạch lại phải chắt chiu, tiết kiệm. Nhưng rồi “niềm vui ngắn chẳng tầy gang”, chỉ sau một thời gian sử dụng, do phụ thuộc vào nguồn nước thiên nhiên tùy theo mùa, các bể chứa đều rơi vào tình cảnh lúc có nước lúc không, số khác lại hư hỏng, xuống cấp. Đáng buồn hơn, có bể không hư hỏng, lại đang vào mùa mưa, nguồn nước dồi dào, nhưng vẫn cạn khô, nguyên nhân… tại trâu bò thả rông dẫm đạp vào đường ống gây hư hỏng. Lẽ ra, những hư hỏng kiểu này hoàn toàn có thể khắc phục mà không tốn mấy kinh phí, thời gian, nhưng “cha chung không ai khóc”, bà con dân bản, kể cán bộ thôn thà quay lại cảnh gùi nước hàng ngày như trước, còn hơn phải mất công sửa chữa vì “của nhà nước làm, hỏng thì nhà nước phải sửa, không phải việc của mình”.
Cũng như ở bản Ọi, một số địa phương khác như bản Đồng Tâm, xã Phú Nghiêm (huyện Quan Hóa) được đầu tư 2 CTNS theo chương trình 134 (6 bể) và chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch & VSMT nông thôn (12 bể). Đến nay, chỉ có 6 bể có nước vào mùa mưa, số còn lại nằm trơ đáy. Bản Poong xã Đồng Tâm được đầu tư 2 CTNS của Chương trình Nước sạch & Vệ sinh môi trường nông thôn (5 bể) và tổ chức Tầm nhìn thế giới (7 bể). Nhưng chỉ sau vài năm, hiện chỉ còn duy nhất một bể có nước.
Trao đổi với PV Xây dựng, ông Dương Văn Mạnh - Chủ tịch UBND huyện Như Xuân cho rằng, tình trạng trên do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan. Trước hết là do hầu hết các CTNS đều lấy nước từ nguồn tự chảy, phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm nên thường không có nước vào mùa khô. Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân do mức đầu tư kinh phí thấp, lại chịu ảnh hưởng bởi thời tiết, thiên tai bão lũ khiến các CTNS nhanh hư hỏng xuống cấp. Đáng chú ý, theo báo cáo của UBND huyện gửi đoàn Giám sát Ban Dân tộc HĐND tỉnh thì trong tất cả các khâu từ quản lý thi công, giám sát quá trình thi công, công tác quản lý, vận hành bảo dưỡng CTNS cho đến việc lựa chọn đầu tư, khảo sát địa điểm, nguồn nước, ý thức người dân sở tại, công tác quản lý nhà nước của chính quyền địa phương… tất thảy đều có sai sót, bất cập và cả yếu kém. Đặc biệt là công tác quản lý, bảo dưỡng, sữa chữa CTNS ở nhiều địa phương gần như trong tình trạng thả nổi, không ai lo do không có kinh phí.
Như vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó quan trọng nhất vẫn là yếu tố chủ quan đã khiến hàng loạt CTNS với kinh phí đầu tư tới vài trăm tỷ đồng không phát huy được hiệu quả như mong đợi.
Đào Nguyên
Báo Xây dựng









.jpg)

.png)