Ô nhiễm trầm trọng
Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh, chất lượng nước trên sông Ðồng Nai ngày càng giảm do bị ảnh hưởng mạnh bởi nước thải sinh hoạt, nước rỉ của các bãi chôn lấp rác thải, các loại hóa chất sử dụng phổ biến trong hoạt động khai khoáng và sản xuất nông nghiệp và công nghiệp. Trong đó, tập trung nhiều nhất tại tỉnh Bình Dương, sau đó là hai tỉnh Ðồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo thống kê, trên lưu vực sông Ðồng Nai có gần 50 khu công nghiệp và cụm công nghiệp đang hoạt động, với tổng lượng nước thải khoảng 100 nghìn m3/ngày đêm. Nhiều doanh nghiệp còn trực tiếp xả nước thải chưa qua xử lý ra bên ngoài.
Ðó là chưa kể các cơ sở công nghiệp phân tán nhỏ nằm lẫn trong khu dân cư đô thị cũng thường xuyên xả nước thải chưa qua xử lý ra kênh rạch. Dọc hệ thống sông Ðồng Nai có khoảng 139 cơ sở y tế đang hoạt động, xả ra khoảng hơn 10 nghìn m3 nước thải/ngày đêm. Trong số này, chỉ có 48 cơ sở có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, còn lại 91 bệnh viện, cơ sở y tế chưa có hoặc có nhưng không đạt yêu cầu. Nước thải từ các bệnh viện thường được đấu nối vào hệ thống thoát nước chung của các thành phố và sau đó thải ra sông rạch, làm cho nước thải đô thị ở khu vực này có mức độ ô nhiễm cao hơn, nhất là các thông số vi sinh và vi khuẩn gây bệnh.
Theo một số nhà khoa học, hệ sinh thái thuộc hệ thống sông Ðồng Nai đang "chết dần, chết mòn" vì hệ thống thủy điện dày đặc tại thượng nguồn làm thay đổi hệ sinh thái, gây cạn kiệt nguồn nước vùng hạ lưu. Trên lưu vực sông Ðồng Nai hiện có 23 công trình thủy điện theo bậc thang đã phá vỡ trạng thái liên kết của con sông. Chưa kể, nạn chặt phá rừng để lấy đất xây đập thủy điện khiến toàn bộ hệ sinh thái, sinh cảnh khu vực thượng lưu và trung lưu của hệ thống sông bị phá vỡ.
GS, TS Nguyễn Văn Phước, Viện trưởng Viện Môi trường và Tài nguyên (thuộc Ðại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) cho biết: Nước thải sinh hoạt là nguồn gây ô nhiễm sông Ðồng Nai đáng kể nhất, chiếm 62,2% tổng lưu lượng nước thải ra sông. Gần như cả sông Sài Gòn và sông Ðồng Nai đều bị nhiễm a-xít, khi nồng độ chỉ số pH thường xuyên ở mức thấp hơn 7 (pH<7). Ngoài ra, các chỉ số khác như ô-xy hòa tan (DO), nhu cầu ô-xy sinh hóa (BOD), nhu cầu ô-xy hóa học (COD)... đều khá thấp và không đạt tiêu chuẩn (hoặc vượt chuẩn)...
Ô nhiễm vì lợi ích kinh tế
TS Ðào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Phát triển bền vững tài nguyên nước và Thích nghi biến đổi khí hậu, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban sông Mê Công Việt Nam cho rằng, việc sông Ðồng Nai ô nhiễm đã được phát hiện và cảnh báo từ hơn mười năm trước. Một ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Ðồng Nai với sự tham gia của lãnh đạo 11 tỉnh, thành phố đã được thành lập. Ðã có rất nhiều dự án được phê duyệt nhưng đến nay tình trạng ô nhiễm vẫn tiếp diễn. Nguyên nhân chính được các thành viên Ủy ban sông Ðồng Nai nhận định là do thiếu sự phối hợp giữa các tỉnh, thành phố và vì lợi ích kinh tế riêng lẻ của mỗi địa phương.
Theo các chuyên gia, muốn cải thiện số lượng cũng như chất lượng nguồn nước sông Ðồng Nai, yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất là phải giữ được diện tích rừng đầu nguồn; hạn chế phát triển ngành sản xuất nhạy cảm với môi trường; buộc các doanh nghiệp đang hoạt động phải xử lý tốt nước thải trước khi thải ra môi trường. Tuy nhiên, cả ba yếu tố nêu trên đều rất khó thực hiện. Tại tỉnh Ðác Nông, có khoảng 79 công trình thủy điện nhưng có đến 14 công trình thủy điện lớn do Bộ Công thương cấp phép. Tỉnh Lâm Ðồng cũng có khoảng gần 70 thủy điện và phần lớn trong số đó được Bộ Công thương cấp phép. Các tỉnh muốn giữ rừng cho sông thì Bộ phải hạn chế cấp phép xây dựng thủy điện. Bản thân các tỉnh dù không muốn nhưng cũng bất lực với việc có quá nhiều nhà máy thủy điện mọc lên. Tại các tỉnh thuộc khu vực trung lưu "mọc dày" những khu công nghiệp chưa có hoặc có đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng vận hành không hiệu quả. Kết quả là các tỉnh ở khu vực hạ nguồn "lãnh đủ" chất thải.
TS Trần Du Lịch, Phó Trưởng đoàn Ðại biểu Quốc hội TP Hồ Chí Minh cho biết, hiện nay định chế quản lý vùng đã có, vấn đề cần là xác định rõ trách nhiệm và cơ chế điều phối để nâng cao hiệu quả hoạt động. Phải thay đổi quan điểm, nhận thức về cơ cấu kinh tế địa phương. Phải suy nghĩ trên lợi ích của toàn vùng, từ đó tính chuyện quy hoạch phát triển thế nào, điều tiết nguồn lực, chia sẻ lợi ích ra sao. "Giao cho từng địa phương tự lập quy hoạch, tự phê duyệt, tự kiểm tra như thời gian qua thì không biết bao giờ mới giải quyết được bài toán ô nhiễm môi trường con sông" - Tiến sĩ Trần Du Lịch nói.
Kỳ vọng vào "đầu tàu" TP Hồ Chí MinhTrong bối cảnh "đứa con chung" chưa được quan tâm đúng mức, thì TP Hồ Chí Minh với vai trò là đầu tàu kinh tế - xã hội, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh lại giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban sông Ðồng Nai nhiệm kỳ I cho nên được đặt nhiều kỳ vọng trong việc bảo vệ sông Ðồng Nai. Với những nỗ lực riêng của mình, thành phố đã đạt được nhiều hiệu quả trong việc cải thiện môi trường trên con sông.
Tại một số tuyến kênh rạch đấu nối ra sông Ðồng Nai, như kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, kênh Tàu Hủ - Bến Nghé, kênh Ðôi - kênh Tẻ, kênh Ba Bò, kênh Thầy Cai - sông Cần Giuộc... tình trạng ô nhiễm môi trường nguồn nước đã được cải thiện nhiều. Công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý, khắc phục các hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường ngày càng được tăng cường và có sự chuyển biến rõ rệt. Tất cả 15 khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đã hoàn thành và đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung, một số nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt cũng được đưa vào vận hành...
TP Hồ Chí Minh đang hợp tác chặt chẽ với các địa phương lân cận: Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Ðồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết các vấn đề về ô nhiễm môi trường liên tỉnh như cải tạo kênh Ba Bò, kiểm soát các nguồn ô nhiễm xả thải ra sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Ðông, kênh Thầy Cai - An Hạ; triển khai xây dựng Khu xử lý chất thải Tân Thành nhằm xử lý chất thải chung giữa TP Hồ Chí Minh và tỉnh Long An.
Về lâu về dài, thành phố đang triển khai Dự án Quy hoạch Bảo vệ môi trường gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội TP Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025. Mục tiêu của dự án là xác định các kế hoạch, chương trình, dự án ưu tiên nhằm bảo vệ môi trường, duy trì đa dạng sinh học, khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên. Trước mắt, thành phố sẽ khẩn trương đưa vào vận hành các nhà máy xử lý nước thải đã xây xong như: Trạm xử lý nước thải Bình Hưng Hòa (quận Bình Tân) với công suất 30 nghìn m3/ngày; Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng (huyện Bình Chánh) với tổng công suất xử lý theo thiết kế là 141 nghìn m3/ngày; Trạm xử lý nước thải Tân Quy Ðông có công suất xử lý 500 m3/ngày...
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, đây mới chỉ là một phía từ TP Hồ Chí Minh. Muốn cứu được sông Ðồng Nai thì phải có sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều tỉnh, thành phố dọc lưu vực sông, phải tìm được tiếng nói chung, sự cân bằng lợi ích phát triển kinh tế và môi trường giữa các tỉnh, thành phố. Hiện, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang trình Chính phủ sớm thống nhất cơ chế phối hợp giữa các tỉnh, thành phố trong lưu vực, khắc phục ngay các xung đột lợi ích cục bộ vì lợi ích của địa phương mình mà bất chấp thiệt hại của các địa phương khác trên lưu vực. Với sự nỗ lực, chung tay của các địa phương, hy vọng tình trạng ô nhiễm môi trường sông Ðồng Nai sẽ được cải thiện thời gian tới, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực.












.png)